Đây là nội dung đáng chú ý trong hai bản dự thảo mới đây của Bộ Công An đang trong quá trình lấy ý kiến kéo dài từ ngày 27/8 - 7/9.
Theo các văn bản này, đối với mống mắt, mỗi cá nhân khi làm căn cước sẽ được công an kiểm tra để thu nhận bắt buộc dữ liệu xác thực sinh học bằng mống mắt, bên cạnh thực hiện song song với việc thu nhận vân tay và ảnh khuôn mặt.
Mống mắt là bộ phận hình thành ngẫu nhiên từ trong bao thai, ổn định từ 10 tháng tuổi sau khi sinh, và hầu như không thay đổi suốt đời.
Bộ Công An cho rằng do mỗi người có một cấu trúc mống mắt riêng, ngay cả những trường hợp song sinh cũng có mống mắt khác nhau, nên độ chính xác khi nhận dạng mỗi cá nhân có thể đạt mức chính xác tới 99,9%, vượt trội hơn so với nhận dạng vân tay hay bằng khuôn mặt. Để từ đó đạt tính xác thực danh tính “không cần tiếp xúc” và có “tính duy nhất”.
Theo đó, quy trình lấy mống sẽ diễn ra đối với cả hai mắt người. Hệ thống nhận dạng mống mắt hoạt động bằng cách sử dụng camera hồng ngoại gần để ghi lại hình ảnh mống mắt trong điều kiện ánh sáng tối ưu, qua đó mã hóa từng chi tiết như “đường vân, rãnh, đốm sắc tố, và các mẫu phân bố đồng tâm quanh đồng tử” để làm cơ sở đối chiếu nhận dạng.
Còn đối với giọng nói, Bộ Công An đánh giá rằng trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển, bùng nổ theo các phương thức lừa đảo giả mạo tinh vi, nên việc xác thực sinh học qua giọng nói đóng vai trò như một giải pháp kỹ thuật nền tảng để bảo đảm an ninh mạng và xác thực danh tính chính xác hơn.
Với phương thức này, công dân khi làm căn cước sẽ được cán bộ công an đưa vào phòng/cabin thu âm tại cơ sở làm căn cước. Sau đó, công dân sẽ đọc theo các văn bản mẫu được cung cấp, hoặc theo gợi ý của công an. Thời gian thu âm tiêu chuẩn cho một người kéo dài từ 10 - 30 giây, trong đó bắt buộc phải có khoảng lặng không có giọng nói từ 2-3 giây đầu và cuối của đoạn ghi để chuẩn hóa mức độ nhiễu nền.
Các dữ liệu của mống mắt và giọng nói được thu thập đối với mọi công dân từ đủ 6 tuổi trở lên. Dữ liệu sau thu cũng sẽ do Bộ Công An lưu trữ tối thiểu trong vòng 10 năm (đối với mống mắt), hoặc theo quy định khác của cơ quan này.
Đáng chú ý, Bộ Công An không nêu rõ các dữ liệu này sau khi hết thời hạn lưu trữ sẽ được xử lý như thế nào, hoặc vai trò của các cơ quan giám sát độc lập, hay bảo vệ dữ liệu riêng tư của mỗi công dân bên ngoài nào khác Bộ Công an.
Trước đó không lâu, hồi cuối năm 2025, Bộ Công An từng đề xuất triển khai định danh người bằng ADN. Mẫu định danh đầu vào của công dân sẽ bao gồm nhiều dạng khác nhau như máu, niêm mạc miệng, dấu vân tay, nhận diện khuôn mặt, v.v. Tuy nhiên dự thảo này sau đó đã bị bộ này bãi bỏ.
Không khác mấy so với Việt Nam, chính quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ lâu đã triển khai các chính sách sách nhận diện danh tính tương tự về xác thực danh tính qua công nghệ nhận diện giọng nói thông minh và xác thực mống mắt.
Đặc biệt là tại các khu vực được đánh giá nhạy cảm như Tân Cương, Tây Bắc Trung Quốc, nơi sinh sống của hơn 11 triệu người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ. Công an địa phương nơi đây nhận trách nhiệm phải thu nhập định kỳ sinh trắc học của người dân trong độ tuổi 12-65, bao gồm dấu vân tay, ảnh khuôn mặt, mẫu ADN, nhóm máu, giọng nói và quét mống mắt.
Cùng với đó, các chiến dịch với tên gọi “khám sức khỏe cho mọi người” và mạng lưới “trạm công an tiện lợi” cũng là nơi người dân bị buộc phải cung cấp các thông tin về sinh trắc học, rồi thông tin đó bị đưa vào các nền tảng tích hợp dữ liệu, kết nối với camera, thậm chí là lịch sử điện thoại hay hồ sơ pháp lý, để chính quyền theo dõi, phân loại nguy cơ chính trị.
Dựa trên những dữ liệu có được này, chính quyền có thể tạo ra một bộ máy giám sát khổng lồ các hành vi dân sự.
Báo chí Trung Quốc cho biết các việc nhận diện danh tính được dùng cho “chống khủng bố” và “duy trì ổn định” xã hội của nước này. Ví dụ như với công nghệ nhận diện giọng nói, công an Trung Quốc có thể “nghe lén” các cuộc điện thoại để nhận diện “dấu hiệu giọng” từ đó tăng khả năng phát hiện manh mối của nghi phạm.
Trong khi đó, dưới đánh giá của các tổ chức quốc tế, như Liên Hợp Quốc nhận định rằng việc xác thực danh tính làm giảm khả năng ẩn danh, dẫn đến việc người dân ngần ngại hơn trong việc biểu đạt ý tưởng.
Từ năm 2008, Đại Hội đồng xét xử Tòa án Nhân quyền Châu Âu (ECHR) đã cấm việc thu thập và lưu giữ vô thời hạn các mẫu tế bào và hồ sơ ADN để tránh vi phạm Công ước Châu âu về Quyền con người.
